Giới thiệu về kinh tế Việt Nam

Kinh tế Việt Nam đang là điểm hấp dẫn đầu tư nước ngoài trong khu vực Đông Nam Á có nhiều cơ hội đầu tư, tuy nhiền cũng có những thách thức

Ngày đăng: 22-08-2013

4,281 lượt xem

 1. Sơ lược về kinh tế Việt Nam:

  Việt Nam được coi là một nơi hấp dẫn để đầu tư. Chính sách nhà nước và pháp luật thuận lợi kết hợp với tài nguyên thiên nhiên và lợi thế để trở thành một nhà đầu tư nổi bật trong khu vực Đông Nam Á. Yếu tố ảnh hưởng bao gồm:
  - Việt Nam có dân số 88.775.500 người (2012), là quốc gia lớn thứ 13 trên thế giới về dân số, với tỷ lệ người lớn biết chữ của 92,5%;
  - Theo Ngân hàng Thế giới 2012 GDP bình quân đầu người USD1,596, tăng 13% so với năm 2011. Tốc độ tăng trưởng GDP là 5%, giảm dần trong thập kỷ qua từ từ 8,48 đến 5,32%.
  - Việt Nam được xếp vào vào danh sách, trong một hội nghị Liên hiệp quốc gần đây về Khảo sát Thương mại và Phát triển, là điểm đến thứ tám phổ biến nhất cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tập đoàn xuyên quốc gia trong 2010-2012.
- Việt Nams thuộc về 14 thị trường mới nổi hấp dẫn nhất trên thế giới bởi thị trường Blomberge
                                                                                                              GDP Kinh tế Việt Nam

                                                                                  GDP Kinh tế Việt Nam
2. Cơ hội đầu tư

  2.1 Kinh tế Việt Nam

   Trong 25 năm qua, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế mệnh lệnh tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường. Trong thời gian này, nền kinh tế đã tăng trưởng nhanh chóng với mức cao lịch sử trong đầu tư trực tiếp nước ngoài và thương mại.
   Các ngành công nghiệp chính của Việt Nam là sản xuất và nông nghiệp. Xuất khẩu chính bao gồm dầu thô, hải sản, gạo, cà phê, cao su, chè, hàng may mặc và giày dép, hạt tiêu, trong khi nhập khẩu chủ yếu bao gồm máy móc thiết bị, sản phẩm xăng dầu, phân bón, các sản phẩm thép, ngũ cốc và xe máy.
  Cơ sở kinh tế cơ bản của Việt Nam cũng được hỗ trợ bởi nhân khẩu học như dân số trẻ giáo dục khá tốt của đất nước tận hưởng những lợi thế của sự thay đổi của Việt Nam sang một nền kinh tế theo định hướng thị trường hơn.

   2.2 Địa lý kinh tế Việt Nam

   Việt Nam nằm trong điểm cực đông nam của bán đảo Đông Dương và chiếm tới hơn 331.600 km vuông, trở thành quốc gia lớn thứ ba ở Đông Nam Á. Hàng xóm biên giới là Trung Quốc ở phía bắc và Lào và Campuchia về phía tây.
    Với một khoảng cách từ bắc đến nam khoảng 1.650 km, đất của Việt Nam rất đa dạng, với các dãy núi và cao nguyên ở phía tây, phía đông bắc và khu vực miền Trung và đồng bằng và các lưu vực sông ở các khu vực phía bắc và phía nam.

   2.3 Chính sách nhà nước- "đổi mới kinh tế và hơn thế nữa

  Sau một giai đoạn lịch sử của việc đóng cửa, năm 1986 Việt Nam đã giới thiệu chính sách "đổi mới kinh tế", một mục tiêu quan trọng trong số đó là mở của Việt Nam cho vốn đầu tư nước ngoài. Cải cách giới thiệu theo chính sách này đã làm thay đổi Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

  Nỗ lực của Việt Nam để thu hút đầu tư nước ngoài đã rất thành công kể từ cuối những năm 80. Cục Đầu tư nước ngoài báo cáo đến tháng 6/2013 Việt Nam đã có hơn 15.067 dự án đầu tư nước ngoài đã đăng ký, với tổng số vốn đăng ký trên 218,8 tỷ USD. Các lĩnh vực đầu  trên nhiều ngành, với sản xuất, bất động sản, khách sạn, xây dựng và thông tin & truyền thông tất cả các lĩnh vực chính thu hút một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

  Phát triển luật pháp và chính sách đối với Việt Nam như một điểm đến đầu tư:

 - Ngày 29 tháng 12 năm 1987 Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên được thông qua bởi Quốc hội.
 - 15 Tháng Tư năm 1992: Hiến pháp công nhận, lần đầu tiên, sự phát triển của một nền kinh tế thị trường, khái niệm sở hữu tư nhân và quyền của cá nhân tiến hành hoạt động kinh doanh. Nó rõ ràng nhận vốn đầu tư nước ngoài như là một khu vực hợp pháp của nền kinh tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài và đảm bảo rằng tài sản của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không thể bị tước đoạt.
 - Ngày 12 tháng 11 năm 1996: Một luật mới về đầu tư nước ngoài được thông qua. Có những cải tiến đáng kể trên các công cụ năm 1987, bao gồm cho phép các hình thức đầu tư mới bao gồm cả hợp đồng Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao. Luật sửa đổi cũng cho phép các nhà đầu tư chuyển nhượng quyền lợi của họ trong một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho các bên khác.
- 09 tháng 6 năm 2000: Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi để bao gồm công nhận quyền của nhà đầu tư nước ngoài sáp nhập công ty đầu tư của họ với nhau, để có được các công ty và các chi nhánh và quyền chuyển nhượng dưới hình thức đầu tư.
- 13 tháng Bảy, 2000: Hiệp định thương mại song phương được ký kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
- Tháng sáu 14, 2005: Một luật Dân sự và Luật Thương mại mới được thông qua của Quốc hội. Các luật cải cách pháp luật hợp đồng Việt Nam, trong đó có quy định mới của chính phủ sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, hợp đồng thương mại và quyền kinh doanh.
- 29 Tháng 11 2005: Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội thông qua. Các luật nền tảng thiết lập một chế độ chung và pháp luật thống nhất "của công ty để đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.
- Ngày 11 tháng một năm 2007: Việt Nam tham gia Công ước như thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
Trong khi đó, những cải cách pháp lý đang diễn ra đã tự do hóa kinh tế Việt Nam kết quả trong một môi trường kinh doanh chuyên nghiệp hơn cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các bước đã được thực hiện để mở cửa thị trường vốn của Việt Nam và thực hiện các "cổ phần hóa" của các doanh nghiệp nhà nước.

3. Thách thức:
   Mặc dù có những thay đổi pháp lý, kinh tế và xã hội nhanh chóng đã xảy ra kể từ khi Việt Nam mở cửa cho đầu tư và thương mại nước ngoài, nhưng Việt Nam vẫn có một số đề tồn tại.

   3.1 Quan liêu
   Đất nước vẫn phát triển khuôn khổ pháp lý đã không được giải quyết thỏa đáng một số vấn đề pháp lý và thực tiễn quan trọng, trong khi hành chính quan liêu và hành chính tiếp tục trì hoãn và làm phức tạp việc phê duyệt và thực hiện dự án đầu tư, cũng như các chương trình như cổ phần hóa của Nhà nước thuộc sở hữu doanh nghiệp.
  Như trong hầu hết các nền kinh tế mới nổi, quan liêu là một trong những thách thức mà các nhà đầu tư có thể gặp phải trong khi gia nhập thị trường của Việt Nam. Trong khi chính sách của Chính phủ là rõ ràng và ủng hộ các nhà đầu tư, các vấn đề phát sinh trong giai đoạn thực hiện nơi chính quyền địa phương có thể hiểu các quy định khác so với những gì đã được ban hành soạn thảo.

  Gốc rễ của quan liêu hành chính là một nhiệm vụ không dễ dàng để hài hòa giữa một mặt là kinh tế thị trường và mặt khác là định hướng xã hội chủ nghĩa, cũng như hệ thống pháp luật khó hiểu, pháp luật và các quy định đang được liên tục và thường không gắn bó khăng khít ban hành và sửa đổi. Đối với điều này cần phải xem xét kỹ hơn hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như lịch sử hình thành thiết lập.

 Hệ thống pháp luật Việt Nam là một hệ thống pháp luật pháp luật dân sự, ngoài ra nó rất khó để phân loại. Trong khi tính năng của hệ thống quy phạm pháp luật Pháp vẫn còn nhìn thấy trong pháp luật hợp đồng Việt Nam hôm nay, nó sẽ là một sai lầm khi nghĩ rằng Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay chỉ là một sự lặp lại của Bộ luật Napoleon Pháp. Pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa cũ khác, chẳng hạn như Nga và Trung Quốc, cũng ảnh hưởng rất nhiều về pháp luật dân sự Việt Nam. Với lịch sử lâu dài của cuộc chiến tranh, ảnh hưởng bên ngoài và hệ thống chính trị cụ thể, rất khó để xếp hệ thống pháp luật Việt Nam thuộc gia đình pháp luật nào. Chắc chắn, hệ thống pháp luật Việt Nam thuộc về hệ thống pháp luật pháp luật dân sự.

 Ở Việt Nam, pháp luật không chỉ là một cơ thể các quy tắc được ban hành bởi Quốc hội. Quốc hội chỉ họp được hai buổi một năm. Vì vậy, chỉ có các bộ luật quan trọng nhất được thông qua luật: các bộ luật, ngân sách và các luật thuế khác nhau, và quy luật kinh tế quan trọng như luật đầu tư, luật doanh nghiệp. Phần còn lại của pháp luật Việt Nam được điều chỉnh bởi pháp lệnh của Chủ tịch Uỷ ban thường vụ và các văn bản dưới luật, trong hệ thống phân cấp như sau: pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư của các Bộ, chỉ thị. Trong ngắn hạn, Quốc hội thông qua Luật, Uỷ ban thường vụ ban hành pháp lệnh và Chính phủ ban hành Nghị định. Các luật và văn bản dưới luật có thể được giải thích thêm và bổ sung đôi khi bởi Thông tư, Nghị quyết, Quyết định của các Bộ, giải thích việc áp dụng pháp luật cao hơn. Nghị định được ban hành kèm theo Quy chế. Cho đến nay, không có Tòa án Hiến pháp để thực hiện duyệt xét pháp lý của Nghị định và Quy chế. Kiểm soát này là trong tay của Quốc hội, đó là hiếm khi được sử dụng. Như vậy, nhà đầu tư có thể cảm thấy thất vọng đối mặt với các quy định dưới luật không thực hiện tinh thần hay ý định của pháp luật hoặc các quy ước quốc tế. Họ cũng có thể cảm thấy bối rối khi có quá nhiều cơ quan có quyền giải thích hoặc điều chỉnh một hành động, nhưng không ai trong số họ chiếm ưu thế khác trong mang trách nhiệm đối với các nhà đầu tư. Hy vọng rằng với thời gian và cải cách tư pháp của Chính phủ, hệ thống pháp luật sẽ trở nên minh bạch hơn do đó sẽ nâng cao chất lượng của pháp luật.

 Như vậy, tính ưu việt của pháp luật chưa có một đặc trưng của hệ thống pháp luật Việt Nam, nhiều cơ quan điều hành cũng thực hiện chức năng lập pháp. Đây là như vậy vì những triết lý đằng sau các khái niệm của pháp luật. Theo triết học Mác-xít, pháp luật là một biểu hiện của ý chí của giai cấp cầm quyền, một công cụ của giai cấp quản lý để phát triển đất nước trong khuôn khổ các nghị quyết của Đảng. Nếu không có sự hiểu biết tư duy triết học, người ta có thể không hiểu tại sao pháp luật Việt Nam là đặc biệt và khác nhau quy định như đối với một số vấn đề, chẳng hạn như đất hoặc các loại tài sản.

  3.2 cơ sở hạ tầng
 Là cơ sở hạ tầng nước đang phát triển có thể được chắp vá và có vấn đề. Mặc dù Việt Nam đã nhận được một số lượng lớn các hỗ trợ  cho vay phát triển chính thức (ODA) cho phát triển cơ sở hạ tầng, nhưng với một nước đang phát triển 6-10 phần trăm GDP mỗi năm, nhu cầu về điện, nước luôn cao hơn cung. Ách tắc giao thông, cảng xử lý không hiệu quả, thiếu hụt nghiêm trọng về chất lượng đường và điều khiển giao thông có thể thách thức các cơ hội được tạo ra bởi chi phí lao động thấp hay sự ổn định chính trị. Có nói rằng, Việt Nam là một trong những tỷ lệ thâm nhập Internet cao nhất trong khu vực và một mạng lưới viễn thông đáng tin cậy và dễ hiểu. Cơ sở hạ tầng tạo ra thách thức đối với các nhà đầu tư, nhưng không kém cơ hội cho những người muốn đầu tư vào hợp tác công tư (PPP) các dự án như xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT), xây dựng-chuyển giao (BT) hoặc các nhà máy điện độc lập (IPP), dự án.

  3.3 Giáo dục
 Thách thức đầu tiên và quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam là ngoại ngữ (ví dụ, tiếng Anh). Ngôn ngữ chính thức là tiếng Việt, được nói bởi những người Việt. Mặc dù một phần lớn vốn từ vựng tiếng Việt là vay mượn từ Trung Quốc, nó đã được viết trong một kịch bản La-tinh, phát minh bởi Alexandra de Rhodes trong thế kỷ 17 và xây dựng vào đầu thế kỷ 20. Việt Nam đang giảng dạy từ bậc tiểu học đến cấp tiến sĩ, và mặc dù tiếng Anh được giảng dạy rộng rãi, nó không được sử dụng rộng rãi và tất cả các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và hợp thức hóa trước khi trình cơ quan Chính phủ. Kết quả là phần lớn dân số chỉ nói tiếng Việt do chất lượng không thường xuyên đào tạo trong các ngôn ngữ khác.

 Như với các cơ sở hạ tầng và hệ thống pháp luật, hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng ở trong trạng thái thay đổi liên tục. Trường đang học cách để thích ứng với việc chuẩn bị cho sinh viên của họ chuyên nghiệp hơn là dẫn thị trường dựa trên. Điều này có thể làm cho nó khó khăn để tìm nhân viên hành chính với những kiến thức và kinh nghiệm làm việc trong một môi trường kinh doanh chuyên nghiệp. Tuy nhiên như đã nói ở trên thế hệ trẻ đang mong muốn học các kỹ năng cần thiết để làm việc cùng với các nhà đầu tư và doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy nếu có cơ hội thông qua ví dụ hướng dẫn và đào tạo trong nhà, khó khăn như vậy có thể được khắc phục để tạo ra một lực lượng lao động năng động và hiệu quả.

 Đồng thời, những thách thức này đại diện cho những cơ hội đáng kể cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước.

 Trang viết này được thiết kế để cung cấp một cái nhìn tổng quan về khung pháp lý và thủ tục pháp lý có nhiều khả năng có liên quan đến đầu tư nước ngoài xem xét việc thành lập một doanh nghiệp ở Việt Nam. Nó cũng xác định các vấn đề và rủi ro cần được xem xét bởi các công ty có kế hoạch đầu tư hoặc kinh doanh với Việt Nam quy phạm pháp luật và thực tế nhất định.

                                                                                                                                                                                                                                                         Lawyervn.net

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha reload