Giới thiệu các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Giới thiệu các hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp vào Việt Nam

Ngày đăng: 05-09-2013

10,031 lượt xem

1 Giới thiệu các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt nam
Có hai hình thức chủ yếu của đầu tư nước ngoài vào Việt Nam :
• Đầu tư trực tiếp – khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý đầu tư dưới các hình thức: thành lập một doanh nghiệp mới (xem khoản 2.1 dưới đây), đầu tư vào một doanh nghiệp hiện có (xem khoản 2.2 dưới đây), thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện (xem khoản 2.3 dưới đây), đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (xem khoản 2.4 dưới đây)
• Đầu tư gián tiếp – khi nhà đầu tư đầu tư thông qua việc mua cổ phiếu, chứng khoán hoặc thông qua các tổ chức tài chính trung gian mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư (xem mục 3 dưới đây) .

  Các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam  

                                 Các hình thức đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

2 Các hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam
Nhà đầu tư nước ngoài có thể trực tiếp tham gia vào thị trường Việt Nam bằng nhiều cách. Các nhà đầu tư nước ngoài phải xác định xem họ muốn đầu tư một mình hoặc với người nước ngoài khác, hoặc hợp tác với một hoặc nhiều nhà đầu tư Việt Nam. Đồng thời, các nhà đầu tư phải xem xét và lựa chọn hình thức thích hợp nhất của đầu tư , bao gồm cả việc thành lập một công ty mới, đầu tư vào một công ty hiện với vai trò quản lý hoạt động, hoặc theo đuổi một hình thức khác của sự hiện diện đầu tư, chẳng hạn như một chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh .

Lựa chọn hình thức đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam sẽ phụ thuộc chủ yếu vào mục đích đầu tư. Nó cũng có thể được quyết định bởi quy tắc đặc biệt áp dụng cho các lĩnh vực cụ thể. Ví dụ , đối với các khoản đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO sẽ là một yếu tố quyết định trong việc lựa chọn hình thức đầu tư. Cơ quan thường áp dụng các cam kết như hạn chế thực tế về sở hữu nước ngoài, phê duyệt đầu tư nước ngoài không được vượt quá mức thỏa thuận trong Biểu cam kết. Một số các cam kết xác định rằng đầu tư trong các lĩnh vực dịch vụ nhất định chỉ có thể được thực hiện dưới hình thức liên doanh với đối tác Việt Nam .

2.1 Hình thức đầu tư vào Việt Nam: Thành lập một doanh nghiệp mới
Hình thức pháp lý được cho phép theo Luật Doanh nghiệp bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn (một hoặc nhiều thành viên), công ty cổ phần, hợp danh và doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hầu hết được thành lập như công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với một nhà đầu tư duy nhất chỉ có thể được thành lập như một công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty cổ phần phải có ít nhất ba cổ đông. Cân nhắc khác nhau nên được xem xét trong việc lựa chọn các tổ chức được thành lập, như các chế độ quản lý, lựa chọn tài chính , yêu cầu công bố và các khía cạnh hoạt động khác của các thực thể khác nhau tùy thuộc vào việc đầu tư được thực hiện bởi một công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần công ty .

a. Hình thức đầu tư vào Việt Nam thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên ("TNHHNTV" )
  Công ty TNHHNTV là một công ty mà trong đó nhà đầu tư (gọi tắt là "thành viên" ) phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ khác của công ty lên đến số tiền vốn mà các thành viên đã cam kết góp vào công ty. Thành viên của Công ty TNHHNTV thể là tổ chức, cá nhân.
  Công ty TNHHNTV phải có ít nhất hai thành viên và không quá 50. Công ty đạt được tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (được ban hành dưới hình thức chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài). Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài với nhiều nhà đầu tư nước ngoài, cũng như các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, có thể được thiết lập  Công ty TNHHNTV.
  Công ty TNHHNTV được quản lý bởi một Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên (những người có thể là cá nhân hoặc đại diện của các công ty thành viên), một Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc. Một công ty TNHH mười một thành viên trở lên phải có một ủy ban kiểm tra. Các thành viên của Cty TNHHNTV có thể chọn một trong hai Chủ tịch Hội đồng thành viên và Tổng giám đốc là đại diện pháp lý của công ty, người được trao với sức mạnh để đại diện và ràng buộc các công ty .

b. Hình thức đầu tư vào Việt Nam thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ("TNHHMTV")
Công ty TNHHMTV là một công ty trách nhiệm hữu hạn một nhà đầu tư duy nhất, chẳng hạn như một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chỉ với một công ty mẹ hoặc một cá nhân. Các nhà đầu tư duy nhất trong Công ty TNHHMTV được định nghĩa là chủ sở hữu của Công ty TNHHMTV. Chủ sở hữu có thể chỉ định một đại diện được ủy quyền duy nhất để đại diện cho vốn chủ sở hữu của nó và hành động như chủ tịch của Công ty TNHHMTV. Ngoài ra, chủ sở hữu có thể chỉ định nhiều hơn một đại diện được ủy quyền đại diện cho vốn chủ sở hữu của nó và tất cả các đại diện có thẩm quyền thành hội đồng của Công ty của các thành viên. Chủ sở hữu cũng bổ nhiệm một cá nhân trong những đại diện được uỷ quyền làm Chủ tịch.
  Người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHHMTV có thể là Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc theo quyết định của chủ sở hữu. Mỗi Công ty TNHHMTV được yêu cầu phải chỉ định từ một đến ba giám sát. Người giám sát có vai trò tương tự như của một ủy ban kiểm toán, mặc dù báo cáo của giám sát được cung cấp trực tiếp cho các thành viên.
  Đại diện pháp luật của công ty phải thường trú tại Việt Nam. Nếu người đó không có mặt tại Việt Nam trong hơn 30 ngày, một người khác phải được ủy quyền hành động thay mặt của mình phù hợp với các quy định của Điều lệ công ty.

c. Hình thức đầu tư vào Việt Nam thành lập công ty cổ phần ("Công ty cổ phần" )
  Một Công ty Cổ phần (hoặc công ty cổ phần) là một công ty có vốn điều lệ được chia thành cổ phần và cổ đông phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty lên đến số tiền vốn đã góp hoặc phải chịu trách nhiệm đóng góp cho công ty.
  Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân. Số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa của các cổ đông. Một Công ty cổ phần có thể phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo quy định của pháp luật chứng khoán của Việt Nam.
  Một Công ty cổ phần có được tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Các nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập một Công ty cổ phần, với điều kiện là số lượng các nhà đầu tư nước ngoài và/hoặc trong nước trong các công ty ít nhất là ba .
  Quyết định Cao nhất của một Công ty cổ phần là Đại hội cổ đông. Một Công ty cổ phần được quản lý bởi một Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc. Công ty cổ phần với hơn 11 cổ đông cá nhân, hoặc một cổ đông sở hữu trên 50% tổng số cổ phần , bắt buộc phải có một ủy ban kiểm tra.
  Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc- được xác định bởi điều lệ của công ty - là người đại diện pháp luật của công ty. Đại diện pháp luật phải thường trú tại Việt Nam . Nếu người đó không có mặt tại Việt Nam trong hơn 30 ngày, một người khác phải được ủy quyền hành động nhân danh mình hoặc thay mặt cho mình.
  Một Công ty cổ phần phải phát hành cổ phầ phổ thông và cũng có thể phát hành cổ phần ưu đãi bao gồm :
• Cổ phần ưu đãi biểu quyết (không được chuyển nhượng )
• Cổ phần ưu đãi cổ tức,
• Cổ phần ưu đãi hoàn lại
• Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty

d . Hình thức đầu tư vào Việt Nam thành lập Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp có không ít hơn hai thành viên (nếu chỉ có hai thành viên, cả hai đều phải là sở hữu chung) là chủ sở hữu chung của các doanh nghiệp và những người thực hiện kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh của công ty hợp danh trách nhiệm vô hạn về các nghĩa vụ của công ty.
  Công ty hợp danh theo pháp luật Việt Nam có tư cách pháp nhân (mặc dù trách nhiệm vô hạn đối với các thành viên hợp danh) kể từ ngày giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được ban hành.
   Ngoài việc có ít nhất hai thành viên hợp danh, công ty hợp danh có thể có một hoặc nhiều thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của quan hệ đối tác chỉ trong phạm vi số tiền vốn đã cam kết góp vào công ty .
  Quản lý tổng thể của công ty hợp danh được thực hiện bởi Hội đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên, bao gồm cả các thành viên góp vốn. Tuy nhiên , thành viên góp vốn không được phép tham gia quản lý hàng ngày của các thành viên hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh nhân danh công ty hợp danh .

2.2 Hình thức đầu tư vào Việt Nam: đầu tư vào một doanh nghiệp hiện có
  Các nhà đầu tư cũng có thể chọn trực tiếp đầu tư vào Việt Nam bằng cách mua lại cổ phần trong một doanh nghiệp Việt Nam hiện tại. Thông thường, thẩm quyền phê duyệt trong và ngoài nước sẽ được yêu cầu. Các yêu cầu về thủ tục cụ thể để thực việc mua lại này sẽ khác nhau tùy thuộc vào:
•  Doanh nghiệp mục tiêu đã có các nhà đầu tư nước ngoài và Giấy chứng nhận đầu tư cho một dự án đã được phê duyệt ;
• Nhà đầu tư mua cổ phần hiện có bằng cách chuyển nhượng hoặc phát hành mới cổ phần;
•  Hình thức doanh nghiệp mục tiêu (là một công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc nhiều thành viên hoặc công ty cổ phần ); và
•  Lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động .

2.3 Hình thức đầu tư vào Việt Nam: Thành lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện
Như một thay thế cho việc thiết lập, hoặc đầu tư vào một doanh nghiệp thành lập Việt Nam, Luật Thương mại của Việt Nam cho phép thương nhân nước ngoài nhất định để thành lập hai hình thức hiện diện tại Việt Nam: chi nhánh, văn phòng đại diện. Cả hai đều phải có giấy phép của cơ quan có liên quan. Các doanh nghiệp nước ngoài muốn hoạt động một đại diện, chi nhánh tại một số ngành như ngân hàng, tài chính, dịch vụ pháp lý, văn hóa, giáo dục, kinh doanh, thuốc lá và du lịch nên lưu ý rằng thành lập và hoạt động của các đơn vị này được điều chỉnh bởi pháp luật cụ thể và không phải là Luật về Thương mại và các quy định chung của nó đối với văn phòng đại diện và chi nhánh .

  2.3.1 Hình thức đầu tư vào Việt Nam: thành lập Văn phòng đại diện ("VPĐD")
  Văn phòng đại diện là một trong những phương tiện phổ biến nhất cho các công ty nước ngoài thành lập một sự hiện diện kinh doanh tại Việt Nam. Chức năng chính của một VPĐD là để tìm kiếm cơ hội kinh doanh, nghiên cứu thị trường, tiếp thị, liên lạc với các cơ quan liên quan đến đầu tư tại Việt Nam cho công ty mẹ và theo dõi việc thực hiện hợp đồng mà công ty mẹ đã được nhập vào Việt Nam.

  VPĐD không được phép tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động tại Việt Nam, thực hiện hợp đồng, thực hiện hoặc nhận các khoản thanh toán trực tiếp, mua hàng địa phương trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu hoặc phân phối sản phẩm đại diện cho trụ sở chính. VPĐD có thể, tuy nhiên, thuê không gian văn phòng tại Việt Nam, sử dụng nhân viên Việt Nam và nước ngoài và ký kết hợp đồng liên quan đến hoạt động được phép.
 
  Nói chung , VPĐD của thương mại nước ngoài hoặc các công ty dịch vụ được phép hoạt động cho một nhiệm kỳ năm năm có thể được gia hạn.

  2.3.2 Hình thức đầu tư vào Việt Nam: Thành lập văn phòn chi nhánh
Văn phòng chi nhánh của công ty nước ngoài có quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình, thực hiện hợp đồng, và thực hiện tất cả các hoạt động thương mại khác mà họ được cấp phép. Đáng chú ý, các quyền hoạt động thương mại đối với hàng hóa , dịch vụ hạn chế sẽ chỉ có sẵn như dự kiến trong cam kết quốc tế của Việt Nam .

  Bộ Công Thương được uỷ quyền cấp, sửa đổi, thu hồi giấy phép đối với văn phòng chi nhánh tham gia vào các hoạt động kinh doanh và hầu hết các dịch vụ khác. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được uỷ quyền cấp giấy phép cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

2.4 Hình thức đầu tư vào Việt Nam theo hình thức hợp đồng đầu tư
a. Hợp đồng xây dựng -Vận hành- Chuyển giao tại Việt Nam (BOT)
Đối với các dự án cơ sở hạ tầng , cấu trúc Xây dựng -Vận hành- Chuyển giao ( " BOT " ) là hình thức đầu tư chủ yếu cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam . Theo hình thức BOT đầu tư được thảo luận chi tiết hơn ở các phần liên quan.

b. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là một văn bản thỏa thuận giữa nhà đầu tư nước ngoài và đối tác Việt Nam mà không thành lập một pháp nhân riêng biệt. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được phép hoạt động và thực hiện một dự án cụ thể tại Việt Nam để chia sẻ doanh thu, lợi tức phát sinh từ hoạt động này .
Nhược điểm chính của hợp đồng hợp tác kinh doanh là các bên có trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của hoạt động thương mại của các bên. Để giảm rủi ro như vậy, bên nước ngoài có thể xem xét việc thiết lập một phương tiện đầu tư ở nước ngoài sau đó ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác địa phương.

3 Hình thức đầu tư nước ngoài gián tiếp vào Việt Nam
Các hình thức đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam bao gồm: a) Mua cổ phiếu, chứng khoán, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; b) Thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; c) Thông qua các tổ chức tài chính trung gian khác.

Hình thức chính của đầu tư nước ngoài gián tiếp vào Việt Nam là thông qua thị trường chứng khoán của nước này. Đầu tư gián tiếp theo hình thức này đòi hỏi tương đối ít hơn quy định hơn so với đầu tư trực tiếp, tập trung vào các yêu cầu hành chính như thành lập và đăng ký mã số giao dịch và tài khoản, và thuyết minh thông tin định kỳ .

Nhà đầu tư nước ngoài không cư trú phải mở một tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam đầu tư tại một tổ chức tín dụng được phép để thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Vốn đầu bằng ngoại tệ phải bán lấy đồng Việt Nam để thực hiện ra một khoản đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Tất cả các giao dịch liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếp phải thực hiện thông qua tài khoản vốn đầu tư gián tiếp bằng đồng Việt Nam.

Quy định của thị trường chứng khoán Việt Nam, và đầu tư nước ngoài trên thị trường, được xem xét chi tiết hơn trong các trang liên quan.

                                                                                                                                                                                                                                                               Lawyevn.net

Bình luận (0)

Gửi bình luận của bạn

Captcha reload